Kiểm soát nồng độ trong nước (P2)

nước biển

Amoniac – NH3

  • Amoniac (NH3) được bài tiết bởi tất cả các động vật và các sinh vật trong bể. Thật không may, nó rất độc hại đối với hầu hết các loài động vật, mặc dù một số khác thì không,chẳng hạn như một số loài macroalgae sẵn sàng hấp thụ NH3.
  • Trong một bể san hô ổn định, chất thải amoniac thường được các loài tảo – Macroalgae nhanh chóng hấp thụ để tạo ra các protein, DNA, và các chất hóa sinh khác có chứa nitơ. Vi khuẩn – Bacteria cũng có thể hấp thụ NH3 chuyển đổi nó thành nitrit , nitrat, và khí nitơ (“chu kỳ nitơ”). Tất cả những hợp chất này ít độc hại hơn so với amoniac (ít nhất là cho cá), do đó chất thải ammoniac sẽ nhanh chóng “phân hủy” trong điều kiện bình thường.
  • Tuy nhiên trong một số trường hợp, ammoniac cần được quan tâm tới. Trong quá trình lắp đặt ban đầu của một hồ san hô, hoặc khi sống đá hoặc cát được thêm vào, một số lượng lớn ammoniac sẽ làm cho hệ thống lọc sinh học của hồ quá tải và không thể phân hủy trong một thời gian ngắn. Trong những trường hợp này, cá có nguy cơ rất lớn. Amoniac ở mức thấp là 0.2 ppm cũng có thể gây nguy hiểm cho cá. Trong trường hợp như vậy, cá và động vật không xương sống nên được di chuyển ra khỏi hồ để nước sạch hơn, hoặc bể cá phải được xử lý với một sản phẩm khử ammoniac như Amquel.
  • Nhiều người chơi đang bối rối bởi sự khác biệt giữa amoniac và các hình thức của nó được cho là ít độc hại hơn: amoni. Lý do duy nhất mà amoni được cho là ít độc hại hơn amoniac là một phân tử tích điện, nó đi qua mang của các loài cá và đi vào máu của chúng khó khăn hơn nhiều so với ammoniac

Strontium trong nước biển

  • Tôi khuyên các bạn nên duy trì nồng độ strontium trong bể san hô trong phạm vi 5-15 ppm. Mức độc ở khoảng chênh lệch so với nước biển tự nhiên là 8 ppm. Tác giả khuyến cáo không nên bổ sung strontium, trừ khi nồng độ strontium kiểm tra thấy ở mức dưới 5 ppm. Đo lường và bổ sung strontium không phải là một vấn đề khó khăn đối với người chơi.
  • Trong một số thử nghiệm gần đây, tôi thấy rằng trong hồ san hô của mình, không có bất kỳ bổ sung strontium nào, nhưng strontium vẫn duy trì trên mức tự nhiên (15 ppm do strontium cao trong hỗn hợp nước biển nhân tạo.Do đó, bổ sung thêm mà không biết mức độ strontium hiện tại của hồ là không nên. Bằng chứng khoa học cho thấy một số sinh vật cần strontium, mặc dù không phải là sinh vật mà hầu hết các san hô cần để duy trì và phát triển, tuy nhiên, rõ ràng nó sẽ độc hại ở nồng độ cao. Trong một báo cáo khoa học, mức strontium 38 ppm đủ để có thể giết một loài cua (Carcinus maenas). Không có bằng chứng nào cho thấy rằng mức strontium 5-15 ppm là có hại cho bất kỳ sinh vật biển, mặc dù nó được biết không phải là mức độ strontium tối ưu.
  • Làm thế nào chúng ta có thể duy trì mức độ strontium như trong tự nhiên? Tất nhiên là bổ sung, điều này cần dụng cụ. Nếu kết quả ở trong khoảng 5-15 ppm, không cần phải làm bất cứ điều gì. Nếu mức độ cao hơn 15 ppm, phương pháp đơn giản nhất chỉ đơn giản là thay nước với loại muối phù hợp. Nếu nồng độ strontium dưới 5 ppm, bổ sung thêm strontium theo nồng độ phù hợp.
  • Nhìn chung, thay nước với một hỗn hợp muối có chứa một mức độ phù hợp của strontium có thể là cách tốt nhất để giữ strontium ở mức độ theo yêu cầu.

Iốt – Iondine

Tôi thường không bổ sung Iodine cho hồ của mình, nhưng tôi không khuyên những người chơi khác phải làm theo như vậy. Bổ sung Iodine phức tạp hơn nhiều so với các ion khác do có quá nhiều các hợp chất tự nhiên, hoặc các chất mà người chơi bổ sung đều có chứa Iodine. Vì những lý do này, tôi khuyến cáo người chơi không nên cố gắng để duy trì mức iodine bằng dụng cụ đo và dung dịch bổ sung.

Nhiệt độ

  • Nhiệt độ tác động đến các sinh vật trong hồ san hô với nhiều cách khác nhau. Trước tiên, tỷ lệ trao đổi chất của chúng sẽ tăng lên khi nhiệt độ tăng. Chúng có thể sử dụng nhiều oxy , lượng khí carbon dioxide, chất dinh dưỡng, canxi và alkalinity hơn ở nhiệt độ cao hơn. Tỷ lệ này trao đổi chất cao cũng có thể tăng cả tốc độ tăng trưởng và sản xuất chất thải nhiều ở nhiệt độ cao hơn.
  • Một tác động quan trọng của nhiệt độ là thay đổi về mặt hóa học của bể. Độ tan của các khí hoà tan như oxy và carbon dioxide, ví dụ, những thay đổi với nhiệt độ. Oxy rất khó hòa tan ở nhiệt độ cao.
  • Vì vậy, người chơi nên kiểm soát như thế nào?. Trong hầu hết mọi trường hợp, người chơi cố gắng duy trì giống với môi trường tự nhiên. Shimek Ron đã cho thấy rằng sự đa dạng của các loài san hô được tìm thấy trong nước có nhiệt độ trung bình là khoảng 28 tới 30 độC. Nhưng trên thực tế, trong hồ người ta thương duy trì mức nhiệt độ thấp hơn vì rất nhiều lý do như: duy trì nồng độ oxy hòa tan, làm chậm quá trình biếnđổi NH3/NH4, NO2…Tôi khuyên các bạn  nên duy trì nhiệt độ trong khoảng 24 tới 28 độ C, trừ khi bạn có một lý do nào khác.

 Độ mặn

  • Có rất nhiều cách khác nhau để đo lường độ mặn, bao gồm thiết bị cảm ứng – probes,khúc xạ – refractometers, và máy đo tỷ trọng chất lỏng – hydrometers. Thường người ra hay sử dụng đơn vị tỷ trọng % hoặc độ mặn ppt. Trên thực tế, nước biển tự nhiên có độ mặn khoảng 35 ppt, tương ứng với tỷ trọng khoảng 1,0264.
  • Trên thự ctế cho thấy rằng độ mặn thường có ảnh hưởng khác nhau đối với các loài san hô và cá. Độ mặn thấp sẽ làm cho cá ít bệnh hơn, ít bị stress nhưng sẽ làm cho san hô không thể phát triển và có khi là tử vong. Vì vậy nên duy trì độ mặn ở mức 1.0246 hay 35ppt.

Nitrite– NO2

Người chơi cá nước ngọt thường quan tâm tới NO2 nhiều hơn. NO2 ít độc hại hơn nhiều lần trong nước biển so với nước ngọt. Cá thường có thể sống sót trong nước biển với nồng độ NO2 lớn hơn 100 ppm, nitrit không phải là một tham số quan trọng đối với người chơi hồ nước biển để theo dõi. Trong hầu hết các trường hợp, các bạn không cần theo dõi NO2 khi bể  đã ổn định.

 

Nguồn : sưu tầm 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.